Giải pháp VNNP: Dịch vụ kế toán thuế trọn gói năm tài chính - Đào tạo nghề kế toán thuế trên chứng từ sống - Dạy kế toán thuế - Học kế toán thuế

BẠN ĐANG Ở: Trang chủ Tin Kinh tế Tin kinh tế trong nước

Định hướng nghề nghiệp quốc tế năm 2012

Theo dự  báo, triển vọng nghề nghiệp quốc tế năm 2012 không mấy sáng sủa và khả quan hơn 2011 do tỷ lệ thất nghiệp chưa có dấu hiệu giảm sút. Phải đến năm 2014 thì số đầu việc trên thị trường lao động mới có thể bằng với thời kỳ tiền suy thoái. Đây là kết quả phân tích của Marisa Di Natale, Giám đốc Công ty Moody’s Analytics chuyên về tư vấn và nghiên cứu kinh tế. Trong giai đoạn này, do nhiều quốc gia bị “hụt chân” ở ngưỡng cửa suy thoái nên số đầu việc thêm vào trên thị trường sẽ khác nhiều so với những công việc mất đi trước đó .

Đọc thêm...
 

Đừng xem nhẹ bộ máy kế toán doanh nghiệp

Nhiều hãng lớn của châu Âu như Orcale, Vodaphone đã quy định những nhà quản lý nếu chưa am hiểu về kế toán thì phải bổ sung kiến thức chuyên môn bằng cách tham dự các khóa học  kế toán do trường đại học hoặc trung học kinh tế tổ chức. Thời gian học khoán từ hai đến sáu tháng, sau đó có thể học tiếp lớp nâng cao hoặc tham khảo sách chuyên ngành.

Tại các công ty của Mỹ, giờ đây người ta coi rằng nhà quản lý doanh nghiệp hiểu biết về kế toán dĩ nhiên là không phải để tự mình làm lấy các công việc lập sổ sách mà là để kiểm tra lại tính chính xác của những thông tin được báo cáo, phục vụ cho việc đều hành và ra quyết định hiệu quả trong công việc sản xuất kinh doanh.


Thông tin kế toán là rất cần thiết cho nhà quản trị đề ra các chiến lược và quyết định kinh doanh. Do đó nếu thông tin kế toán sai lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn. Do vậy, một bộ máy kế toán mạnh, sổ sách kế toán rõ ràng, phân tích thấu đáo sẽ giúp cho người điều hành đưa ra các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả. Mặt khác sổ sách rõ ràng thì việc quyết toán thuế đối với cơ quan chức năng sẽ mau lẹ, giúp tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tùy theo quy mô và lĩnh vực hoạt động, phòng kế toán có thể chia ra làm các bộ phận như: kế toán công nợ và thanh toán, kế toán nguyên liệu vật liệu, kế toán giá thành, kế toán tổng hợp, kế toán quản trị...

Từng doanh nghiệp sẽ có các bộ máy kế toán khác nhau. Chẳng hạn công ty Famas của Anh hay một số công ty khác của châu Âu có xu hướng thuê các công ty kiểm toán thực hiện việc lập sổ sách, báo cáo hoặc thuê các nhân viên kế toán ở các công ty khác đến làm việc ngoài giờ. Cách này giúp các công ty Famas và các công ty khác tiết kiệm chi phí tiền lương cũng như chi phí để duy trì hoạt động của phòng kế toán. Đây là một cách hay đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ.

Vậy tại sao các công ty cần xem trọng bộ máy kế toán?

Trong mỗi công ty, phần tài chính vận động trong nội tại, với chính phủ, với các doanh nghiệp với nhau. Tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động dich chuyển các luồn giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắng liền với viêc tạo lập và sự dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Trong đó, bộ máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt đông tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán.

Vai trò của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán trong mỗi công ty là rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán còn bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp.Theo các chuyên gia tài chính của Oracle, tập đoàn viễn thông lớn của châu Âu thì bộ máy kế toán của Oracle nói riêng và của các công ty khác nói chung sẽ có tác dụng huy động khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả nhất của doanh nghiệp.

Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn phương tức đòn bẩy kinh doanh để huy động vốn, để nguồn vốn bảo toàn và phát triển, nâng cao thu nhập của công ty.Vai trò kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh là vai trò quan trọng nhất của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán vì nó thực hiện được mục tiêu công cụ quản lý kinh doanh.

 

Sổ sách kế toán trên máy vi tính

1- Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính:

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây. Phần mềm kế toán không hithị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.


Đọc thêm...
 

7 cách nâng cao năng lực thanh toán của công ty

Năng lực thanh toán là khả năng của doanh nghiệp có thể chi trả tiền mặt các hoá đơn, khoản nợ khi chúng đến hạn thanh toán. Có hai chỉ số chính được sử dụng để đánh giá tỷ lệ năng lực thanh toán của doanh nghiệp:

1) Chỉ số hiện hành (Current Ratio) được tính theo thương số giữa tổng tài sản hiện tại chia cho tổng dư nợ hiện tại. Chỉ số này nên ở mức từ 2 đến 3, nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp có đủ lượng vốn thanh toán cần thiết cho các khoản vay hiện tại.

2) Chỉ số chuyển đổi nhanh (Quick ratio) được tính theo thương số giữa tiền mặt, chứng khoán dễ mua bán (marketable Securities) và tài khoản thu chia cho số nợ hiện hành, không kể đến hàng lưu kho.

Đọc thêm...
 

Các màn phù phép trong bản Báo cáo tài chính

Có nhiều lý do khiến các bản báo cáo tài chính không minh bạch và một trong số đó là cổ phiếu bị đánh giá quá cao (overvaluation). Giá cổ phiếu cao đồng nghĩa với kỳ vọng cao của nhà đầu tư về khả năng sinh lợi của công ty, từ đó gây sức ép lên các nhà lãnh đạo buộc phải tạo ra mức lợi nhuận tương ứng nếu không muốn nhận phản ứng tiêu cực từ thị trường. Mặt khác, các nhà lãnh đạo cũng nắm giữ một số lượng lớn cổ phiếu, nên bản thân họ không muốn giá cổ phiếu bị sụt giảm.


 

Những lý do này khiến các nhà quản lý khó có lựa chọn nào khác hơn là tìm những thủ thuật phù phép báo cáo tài chính. Tuy nhiên, những thủ thuật này chỉ là biện pháp đối phó nhằm tạo ra ảo tưởng công ty đang làm ăn phát đạt. Vì thế, một khi nhà đầu tư phát hiện doanh nghiệp thiếu minh bạch trong cung cấp thông tin, hậu quả sẽ khó lường. Lấy Enron làm ví dụ, chính kỳ vọng quá lớn của thị trường đã đẩy các nhà lãnh đạo Enron tới hành vi gian lận tài chính. Sau khi bị phanh phui, giá trị của Enron nhanh chóng bị tụt xuống dưới mức 1 tỷ USD so với giá trị thực khoản 30 tỷ và kết cục sau cùng là phá sản.

Trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến những thủ thuật hợp pháp, tuân thủ theo chuẩn mực kế toán, mà các doanh nghiệp Mỹ thường sủ dụng, song cũng không mấy xa lạ với doanh nghiệp Việt Nam.

Phù phép thông qua các ước tính kế toán

Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các công ty thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual earnings management) có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận trong kỳ của công ty. Vì không có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các ước tính này, nên nó được xem là một công cụ đắc lực để phù phép lợi nhuận. Một số thủ thuật làm tăng mức lợi nhuận thường gặp như giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nơ khó đói, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuấng dưới giá trị thuần, vốn hoá các khoản chi phí không đủ điều kiện…

Thủ thuật phù phép lợi nhuận dựa trên các ước tính kế toán thực chất không làm tăng lợi nhuận mà chỉ đơn thuần chuyển lợi nhuận của kỳ sau sang kỳ hiện tại. Hậu quả tất yếu là lợi nhuận các năm sau sẽ bị giảm. Để tiếp tục đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của thị trường, báo cáo tài chính các năm tiếp theo cũng phải được phù phép. Tuy nhiên, càng về sau, mức lợi nhuận cần phù phép càng lớn khiến cho việc sử dụng các ước tính kế toán trở lên vô hiệu. Đến khi “giấy không thể gói được lửa”, khủng hoảng là điều khó tránh khỏi.

Phù phép thông qua các giao dịch thực

Ngoài phù phép thông qua các ước tính kế toán, doanh nghiệp còn có thể phù phép lợi nhuận thông qua việc giàn xếp một số giao dịch thực (Real earnings management) nhằm tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, mặc dù các giao dịch đó có thể không có lợi cho công ty về lâu dài.

Ø Tăng doanh thu thông qua các chính sách giá và tín dụng

Một biện pháp các doanh nghiệp thường sủ dụng để tăng lợi nhuận khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính. Biện pháp thứ hai là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau. Ví dụ, để tăng lợi nhuận Quí IV/2007, một công ty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ Quí I/2008, lập tức doanh thu Quí IV/2007 sẽ tưng vọt. Hai biện pháp này cho phép công ty tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, nhưng sẽ bị giảm vào các năm sau, vì thực chất công ty đã chuyển lợi nhuận của năm sau sang năm hiện tại. Mặt khác, tăng giá bán năm sau còn làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.

Ø Cắt giảm chi phí hữu ích

Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của công ty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai.

Ø Trì hoãn thanh lý tài sản không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không hiệu quả

Đối với các tài sản doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không mang lại hiệu quả, giải pháp tối ưu là thanh lý càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, thanh lý tài sản thường đem lại một khoản lỗ cho công ty trong năm hiện tại. Do đó, nếu lợi nhuận trong năm hiện tại có nguy cơ không đạt được mức kỳ vọng của thị trường, lãnh đạo công ty có thể không muốn thanh lý, mặc dù trì hoãn sẽ gây nhiều thiệt hại cho công ty như làm phát sinh chi phí bảo quản, cản trở không gian sản xuất. Với các tài sản và các khoản đầu tư không hiệu quả thì càng nắm giữ lâu, doanh nghiệp càng lỗ

Ø Bán các khoản đầu tư hiệu quả

Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm lợi nhuận cho năm hiện tại. Động thái này được ví như “gặt lúa non”. Vì thế, áp dụng biện pháp trên có nghĩa là công ty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lời lớn từ các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo.

Ø Sản xuất vượt mức công suất tối ưu

Trong điều kiện thông thường, mỗi doanh nghiệp thường xác định một mức công suất tối ưu, tuỳ thuộc vào năng lực nội tại cũng như điều kiện thị trường Tuy nhiên, trong trường hợp cần tăng lợi nhuận, công ty có thể quyết định sản xuất vượt mức công suất tối ưu. Điều này cho phép công ty giảm giá thành đơn vị sản phẩm nhờ tận dụng chi phí cố định. Mặt trái của biện pháp này là máy mó, thiết bị phải làm việc quá mức ảnh hưởng tiêu cự tới năng suất và độ bền. Ngoài ra, sản phẩm làm ra nhiều, nếu không bán được, sẽ phát sinh chi phí bảo quản và hàng tồn kho lâu ngày sẽ bị giảm giá trị.

Cả hai biện pháp phù phép báo cáo tài chính (dựa trên các ước tính kế toán hay các giao dịch thực), về bản chất, chỉ là chuyển lợi nhuận của các năm sau sang năm hiện tại. Điểm khác biệt là ở chỗ: trong khi sử dụng các ước tính kế toán không làm thay đổi khả năng sinh lời đích thực của doanh nghiệp, thì việc sử dụng các giao dịch thực để phù phép lợi nhuận sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của công ty trong dài hạn. Xét về mặt này, làm tăng lợi nhuận thông qua các ước tính kế toán được ưa chuộng hơn.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sử dụng các ước tính kế toán không đủ sức giúp các doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng và có thể sẽ gặp trở ngại từ phía kiểm toán viên. Do đó, doanh nghiệp có thể phải dùng đến các giao dịch thực để tăng lợi nhuận. Kiểm toán viên dù phát hiện các thủ thuật này nhưng vì nó tuân thủ các chuẩn mực kế toán, nên cũng không thể yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh lại.

Tóm lại, dù áp dụng biện pháp nào, về lâu dài đều không có lợi cho nhà đầu tư cũng như cho chính công ty. Xét trên phạm vi toàn xã hội, hậu quả còn nặng nề hơn, vì bê bối tài chính của một công ty không chỉ ảnh hưởng riêng đến công ty đó, mà còn làm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường. Để ngăn chặc những tác động tiêu cực của “Overvaluation”, các doanh nghiệp cần có ý thức cung cấp thông tin đầy đủ và minh bạch cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng cần tỉnh táo để không đẩy mọi việc đi quá xa vượt tầm kiểm soát. Tuy nhiên, nhiều khi lợi ích ngắn hạn của “Overvaluation” quá hấp dẫn khiến các doanh nghiệp khó có thể cưỡng lại được. Theo như nhận xét của Giáo sư M.C Jensen, Giám đốc công ty Tư vấn Quản trị doanh nghiệp Monitor Group: “Overvaluation cũng giống như một loại heroin. Nó mang cho ta cảm giác lâng lâng lúc ban đầu, nhưng không lâu sau đó sẽ là những nối đau không cùng.

 

Hoá đơn điện tử

Xu hướng sử dụng hoá đơn điện tử để thay thế cho hoá đơn giấy ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới, để phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình sản xuất kinh doanh, hội nhập với khu vực và quốc tế.Để đẩy mạnh việc cung cấp thông tin, tuyên truyền nhằm giúp cho người dân nói chung và người nộp thuế nói riêng hiểu biết về hình thức hoá đơn này, ngành thuế thông tin một số điểm chính về quy định này như sau:

Khái niệm hóa đơn điện tử: Hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Hoá đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

 

Đọc thêm...
 

Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp

Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế do Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFA) ban hành làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) ở các đơn vị trực thuộc khu vực công......Theo đó, BCTC của từng đơn vị trong lĩnh vực công và BCTC hợp nhất của Chính phủ đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực công đều phải lập và trình bày theo một khuôn mẫu thống nhẩt cho phù hợp với hệ thống CMKT công quốc tế. Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) , Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với hệ thống CMKT công quốc tế.

 

Đọc thêm...
 

Phần mềm kế toán 2012: mạnh hơn, rẻ hơn

Thị trường tiềm năng của phần mềm kế toán trong năm 2012 hướng mạnh vào các doanh nghiệp mới thành lập, tiếp đó là những doanh nghiệp có nhu cầu thay đổi, nâng cấp phần mềm kế toán hiện tại. Hướng đến các nhóm khách hàng này, nhà cung cấp tìm cách nâng cấp phần mềm sao cho thích ứng với sự tăng trưởng của khách hàng; hoặc phải thay đổi phương thức kinh doanh để hài hoà với bài toán “cắt giảm chi phí” của phần đa doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế đang suy thoái chung.

Năm nay các công ty phần mềm trở nên năng động hơn bao giờ hết. Họ tích cực tìm kiếm thị trường và thay đổi các hình thức cung cấp dịch vụ, sản phẩm để tương thích nhanh với nhu cầu khách hàng.

Đọc thêm...
 

Hướng dẫn hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia

Hoá đơn bán hàng sẽ được thể hiện dưới 3 hình thức là: Hoá đơn tự in; Hoá đơn điện tử và Hoá đơn đặt in.

Ngoài những nội dung bắt buộc ghi trên hóa đơn như Tên loại hoá đơn; Ký hiệu mẫu số; Tên liên hóa đơn; Số thứ tự; Tên, địa chỉ, số tài khoản, mã số thuế; Người mua, đơn vị bán… thì Các đơn vị dự trữ được tự in hoá đơn bán hàng dự trữ quốc gia để phục vụ hoạt động xuất, bán hàng dự trữ quốc gia nếu đủ các điều kiện sau:

Đọc thêm...
 

Tìm hiểu về thuế nhà thầu

Trong số các sắc thuế của Việt Nam thì "Thuế Nhà thầu" không được ban hành theo bất cứ Luật hay Pháp lệnh nào. Bộ Tài chính quy định việc thu loại thuế này dựa trên hai Luật Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trước đây là thuế Doanh thu và thuế Lợi tức. Sắc thuế này hình thành ngay từ đầu năm 1992, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1991 có hiệu lực. Đối tượng chịu thuế là những nhà thầu nước ngoài có phát sinh thu nhập tại Việt Nam, nhưng đối tượng nộp thuế lại là đối tác Việt Nam thông qua cái gọi là... nộp hộ.

 

Đọc thêm...
 

Phương pháp tính giá xuất kho trong việc ghi nhận kế toán các khoản đầu tư tài chính.

Đầu tư tài chính tại một doanh nghiệp xuất phát từ các khoản tiền nhàn rỗi trong công ty, các khoản đầu tư này được các nhà quản lý hi vọng sẽ mang lại lợi ích tăng thêm khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Và các nhà quản lý sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi còn để đầu tư kiểm soát các công ty khác thông qua thị trường chứng khoán bằng cách mua lại các cổ phiếu phổ thông được lưu hành, hay qua đợt cổ phiếu phát hành lần đầu của các công ty cần chi phối.

Các khoản đầu tư tài chính này phụ thuộc vào yếu tố thời gian nắm giữ và ảnh hưởng của các cổ phiếu nắm giữ với công ty được mua mà được phân biệt thành đầu tư tài chính ngắn hạn, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư vào công ty liên doanh hay đầu tư tài chính dài hạn khác.


Theo chuẩn mực kế toán số 1 chuẩn mực chung , chuẩn mực kế toán số 7 đầu tư vào các công ty liên kết, chuẩn mực kế toán số 8 thông tin tài chính về các khoản góp vốn liên doanh, chuẩn mực kế toán số 25 kế toán đầu tư vào công ty con thì những khoản đầu tư góp vốn bằng hình thức cổ phiếu đều yêu cầu các khoản đầu tư phải ghi nhận theo phương pháp giá gốc khi đầu tư. Giá gốc là toàn bộ chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra đến khi có được chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu…) trong tay.Giá gốc được xác định bằng công thức như sau:

 

Giá gốc = Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm mua + Các chi phí mua có liên quan (chi phí môi giới,  chi hoa hồng ….) để thực hiện thành công việc mua cổ phiếu.

Ví dụ : Công ty A mua 10.000 cổ phiếu DPM với giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm mua là  35.000 đồng/ cổ phiếu. Công ty đã đặt lệnh mua thành công, và chi phí môi giới phải trả cho công ty chứng khoán là 0.5% giá trị đặt mua thành công. Các khoản này được công ty đã thanh toán bằng chuyển khoản.


Giá thị trường    =  10.000 cổ phiếu * 35.000 đồng/cổ phiếu  =   350.000.000


Chi phí môi giới  =   0.5% * 10.000 CP * 35.0000đ/CP             = 1.750.000


Giá gốc của một cổ phiếu =   351.750.000: 10.000 CP = 35.175 đồng/CP

Giá vốn của chứng khoán:Tuy nhiên một vấn đầu đặt ra là một loại cổ phiếu mà công ty đầu tư có thể được mua ở nhiều thời điểm khác nhau do vậy giá gốc của cùng một loại cổ phiếu có thể rất khác nhau. Và khi công ty tiến hành bán các cổ phiếu hay trái phiếu loại này nhắm tối ưu hoá lợi nhuận hay giảm thiểu lỗ thì xác định giá gốc bán ra như thế nào để xác định lợi nhuận của các hoạt động bán ra này? Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta có thể xem xét ví dụ sau đây.

Công ty A mua cổ phiếu của DPM  làm 3 đợt:

Đợt 1:               20.000 cổ phiếu * 40.000 đồng/ cổ phiếu         =  800.000.000 đồng

Đợt 2:               10.000 cổ phiếu * 35.175 đồng/cổ phiếu          =  351.750.000 đồng

Đợt 3:               12.000 cổ phiếu * 32.800 đồng/cổ phiếu          =  393.600.000 đồng

Cộng                42.000 cổ phiếu                                                1.545.350.000 đồng

Và công ty đã bán 32.000 cổ phiếu ra thị trường với giá 37.000 đồng/cổ phiếu. Chi phí môi giới được xác định  0.5% giá trị thực hiện, và khoản chí phí môi giới bán ra được ghi nhận là một khoản chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Như vậy doanh thu từ khoản này được xác định như sau:

Doanh thu bán cổ phiếu = 32.000 cổ phiếu  * 37.000 đồng/CP =          1.184.000.000 đồng

Nhưng công ty cần phải xác định giá vốn của cổ phiếu bán ra là bao nhiêu (40.000 đồng/CP, 35.175 đồng/ CP, hay giá nào) để xác định lợi nhuận hay lỗ cho hoạt động này?

-Trong kế toán có bốn phương pháp xác định tính giá xuất kho có thể  vận dụng vào trong trường hợp này. Bốn phương pháp đó là:

  • Nhập trước - xuất trước (FiFo) : đó là những gì nhập trứơc được ưu tiên xuất trước.
  • Nhập sau - xuất trước (LiFo): đó là những gì nhập sau được ưu tiên xuất trước.
  • Bình quân: trong phương pháp bình quân có phương pháp bình quân 1 lần vào cuối kỳ, bình quân từng lần xuất.
  • Đích danh: chỉ đích danh từng số lượng xuất với giá gốc là bao nhiêu.

Áp dụng giá xuất kho là nhập trước - xuất trước


Trở lại ví dụ trên, công ty nếu áp dụng phương pháp là nhập trước- xuất trước vào nghiệp vụ trên thì giá vốn của việc bán chứng khoán trên thì chứng khoán của đợt 1: 20.000 CP giá 40.000đ/CP được ưu tiên bán đầu tiên, và đợt 2 10.000 CP với giá 35.175 đồng /CP được ưu tiên bán thứ 2 và 2.000 CP với giá 32.800 đồng/CP của đợt 3 được bán cuối cùng (theo nguyên tắc cổ phiếu nào được nhập đầu tiên thì được ưu tiên xuất bán trước). Theo đó được ghi nhận như sau


Doanh thu :       32.000 CP * 37.000 đồng /CP  =1.184.000.000


Giá vốn :20.000CP*40.000đ/CP + 10.000CP*35.175đ/CP +2.000CP*32.800đ/CP =1.217.350.000


Chi phí môi giới: 0.5% * 32.000CP * 37.000 đồng/CP     =       5.920.000


Lợi nhuận của giao dịch trên:     (39.270.000)

Như vậy khi áp dụng  phương pháp nhập trước xuất trước thì công ty lỗ 39.270.000 trong nghiệp vụ này.

Áp dụng giá xuất kho là nhập sau - xuất trước


Nếu trong ví dụ trên công ty, áp dụng phương pháp nhập sau - xuất trước vào nghiệp vụ trên, thì giá vốn của nghiệp vụ này được xác định là chứng khoán đợt 3 là 12.000 CP với giá 32.800 đồng/CP được ưu tiên bán đầu tiên, 10.000 CP với giá 35.175 đồng/CP của đợt 2 được ưu tiên bán tiếp sau và cổ phiếu của đợt 1 được bán bán 10.000 cổ phiếu (theo nguyên tắc cổ phiếu nào nhập sau cùng sẽ được ưu tiên xuất bán trước).
Theo đó được ghi nhận như sau:
Doanh thu:        32.000 CP * 37.000 đồng/CP       = 1.184.000.000


Giá vốn :12.000CP*32.800đ/CP +10.000CP*35.175đ/CP +10.000CP*40.000đ/CP = 1.145.350.000


Chi phí môi giới: 0.5% * 32.000CP * 37.000đồng/CP    =     5.920.000
Lợi nhuận của giao dịch trên :    32.730.000

 

Như vậy khi áp dụng  phương pháp nhập sau xuất trước thì công ty lời 32.730.000 trong nghiệp vụ này

Áp dụng giá xuất kho là bình quân


Nếu trong ví dụ trên công ty, áp dụng phương pháp bình quân vào nghiệp vụ trên, thì giá vốn của chứng khoán được tính bằng các lấy giá gốc của ba lần mua cộng lại và tính trung bình.
Theo đó được ghi nhận như sau:
Doanh thu:        32.000 CP * 37.000 đồng/CP               = 1.184.000.000


Giá vốn :           32.000CP *36.794 đồng/CP                 = 1.177.408.000


Chi phí môi giới: 0.5% * 32.000CP * 37.000đồng/CP     =        5.920.000
Lợi nhuận của giao dịch trên :                                                   672.000
Giá gốc bình quân của các cổ phiếu DPM:

(20.000CP*40.000đ/CP + 10.000CP * 35.175đ/CP

+ 12.000CP * 32.800đ/CP)

=

36.794

42.000 CP

Như vậy khi áp dụng  phương pháp bình quân thì công ty lãi 672.000 trong nghiệp vụ này.

Áp dụng giá xuất kho là đích danh


Nếu trong ví dụ trên công ty, áp dụng phương pháp đích danh vào nghiệp vụ trên, thì công ty có thể chỉ đích danh đợt 1 xuất bán 15.000 CP với giá 40.000 đồng/CP, đợt 2 xuất bán 8.000 CP với giá 35.175 đồng/CP, và đợt 3 xuất bán 9.000 CP với giá 32.800 đồng/CP  
Theo đó được ghi nhận như sau:
Doanh thu:        32.000 CP * 37.000 đồng/CP                                                    = 1.184.000.000


Giá vốn :15.000CP*40.000đ/CP +8.000CP*35.175đ/CP +9.000CP*32.800đ/CP =1.176.600.000


Chi phí môi giới: 0.5% * 32.000CP * 37.000đồng/CP                                          =      5.920.000
1.480.000

Như vậy khi áp dụng  phương pháp đích danh thì công ty lãi 1.480.000 trong nghiệp vụ này.
Tóm lại, khi đầu tư vào chứng khoán thì việc mua các chứng khoán được ghi nhận phải là giá gốc. Giá gốc phản ánh toàn bộ chi phí bỏ ra để có được số chứng khoán đó. Do các lượng chứng khoán được mua ở các thời điểm khác nhau dẫn đến giá gốc của các chứng khoán khác nhau, để xác định giá vốn trong các nghiệp vụ bán chứng khoán, thì có thể vận dụng một trong bốn phương pháp tính giá xuất kho của kế toán là cơ sở xác định giá vốn. Mỗi một phương pháp tính giá xuất kho sẽ cho ra một giá vốn khác nhau. Cho nên tuỳ theo quan điểm kinh doanh mà chúng ta nên cho một cách tính có lợi nhất. Và người đọc thông tin cũng nên nhìn hiểu các phương pháp tính giá để nhìn được bản chất của các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nói trên.

 
Trang 1 trong tổng số 3 trang

KẾ TOÁN THUẾ VNNP

HOTLINE

CÂU LẠC BỘ KẾ TOÁN VNNP

Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn dịch vụ kế toán


Hotline: 0902.025.368

Tư vấn đào tạo tại Cầu Giấy

Hotline: 043.767.3385 ( Exit 107)

Tư vấn đào tạo tại Nguyễn Trãi

Tư vấn đào tạo tại các tỉnh

Bắc Ninh

Ninh Bình

Vĩnh Phúc

TÂM SỰ CÙNG HỌC VIÊN

HỌC VIÊN TẠI VĨNH PHÚC

HỌC VIÊN LỚP AZ - T12/2011

học viên lớp vnnp

HỌC VIÊN KẾ TOÁN AZ NGUYỄN HOÀNG SƠN

giảng viên trường CĐ Nghề cơ khí Nông nghiệp tại Vĩnh Phúc - Điện thoại: 0934.524.899


Đọc thêm...

HỌC VIÊN TẠI BẮC NINH

HỌC VIÊN LỚP AZ 04


Em Hà Thị Huệ - nhân viên kinh doanh công ty American Tech.


Đọc thêm...

HỌC VIÊN TẠI NGUYỄN TRÃI - THANH XUÂN

HỌC VIÊN LỚP TM 04

Em Nguyễn Thị Giang - Nhân viên Kế toán tại công ty CP Bưu Chính VNT số 101AH9 Phương Mai - Đống Đa - HN


Đọc thêm...

TÂM SỰ HỌC VIÊN TẠI CẦU GIẤY

HỌC VIÊN LỚP AZ 154/ THÁNG 12

Bạn TRẦN THU HƯƠNG - Công tác tại Ban biên tập đài Truyền hình Việt Nam - 43 Nguyễn Chí Thanh Hà Nội

Số điện thoại: 0936 949 666


Đọc thêm...

THÔNG TIN HỘI THẢO

HỘI NGHỊ KHÁCH HÀNG - HỘI NGHỊ THƯỜNG NIÊN HỌP VÀO MỖI QUÝ

Sáng 19 tháng 11 vừa qua, VNNP đã tổ chức thành công chương trình : HỘI NGHỊ KHÁCH HÀNG, Đây là chương trình gặp mặt khách hàng được VNNP thường niên vào mỗi quý nhằm tháo gỡ các tồn đọng cũng như định hướng quản lý trong các quý tiếp theo cho doanh nghiệp


Đọc thêm...

HÀNH TRÌNH KẾT NỐI HỌC VIÊN - DOANH NGHIỆP - VNNP TẠI HÀ NỘI

phovong


Đọc thêm...

HÀNH TRÌNH KẾT NỐI HỌC VIÊN - DOANH NGHIỆP VỚI VNNP TẠI BẮC NINH

bacninh

Sáng ngày 29 tháng 10 vừa qua, tại chi nhánh 3 - Chi nhánh Bắc Ninh của VNNP đã long trọng tổ chức chương trình : KẾT NỐI DOANH NGHIỆP VỚI HỌC VIÊN VNNP "


Đọc thêm...

HÀNH TRÌNH KẾT NỐI - HỌC VIÊN - DOANH NGHIỆP VỚI VNNP TẠI VĨNH PHÚC

logo-fast111

HỘI NHẬP DOANH NGHIỆP THÁO GỠ KHÓ KHĂN VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ KẾ TOÁN THUẾ CỦA DN NĂM TÀI CHÍNH 2011

img_0321 fileminimizer


Đọc thêm...

TRI ÂN KHÁCH HÀNG HỘI NGHỊ THƯỜNG NIÊN

TRIAN

Hội nghị diễn ra đúng vào ngày 28 tháng 12 hàng năm


Đọc thêm...

TRỤ SỞ CẦU GIẤY

caugiay

CHI NHÁNH NGUYỄN TRÃI

thao

CHI NHÁNH BẮC NINH

bacninh

CHI NHÁNH VĨNH PHÚC

file-vinh-phuc

CHI NHÁNH NINH BÌNH


HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI VNNP

daotao

HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TẠI VNNP

vanhoa

HOẠT ĐỘNG THỂ THAO TẠI VNNP

thethao

HOẠT ĐỘNG CHUNG TẠI VNNP

hoatdongchung